• Đăng ký
  • Đăng nhập
    bannerhmdn
    computek
    banner-thamluanvio2017
    bannersachtrang

    Trang chủ Sự kiện Hội thảo quốc gia Giới thiệu hội thảo quốc gia

    Hội thảo khu vực về hợp tác và phát triển CNTT lần VI – Nha Trang 2002

    I. Chủ đề: Ứng dụng CNTT trong Quản lý hành chính Nhà nước và Phát triển Du lịch, Thủy hải sản

    II. Thời gian: Từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 9 năm 2002.

    III. Địa điểm: Trung tâm văn hóa tỉnh Khánh Hòa, 46 Trần Phú, Nha Trang.

    IV. Đại biểu: Số lượng: 388 đại biểu, trong đó có 5 đơn vị thuộc khu vực phía Bắc, 12 đơn vị thuộc khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, 8 đơn vị thuộc khu vực phía Nam (chưa kể số đơn vị thuộc Đoàn HCA).

    IV. Nội dung Hội thảo:
    Sáng ngày 13/9/2002 (Bắt đầu lúc 08h00 và kết thúc lúc 11h00)

    – Ông Nguyễn Kim Hòa – Chủ tịch HTH tỉnh Khánh Hòa giới thiệu đại biểu, Đoàn chủ tịch điều hành Hội thảo, ban thư ký Hội thảo.

    – Chủ trì phiên khai mạc Hội thảo:
    Ông Trần Minh Duân – Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hoà,
    Ông Nguyễn Văn Hượt – Giám đốc Sở KHCN&MT tỉnh Khánh Hòa,
    Ông Lê Trường Tùng – Chủ tịch Hội Tin học TP. HCM,
    Ông Nguyễn Kim Hòa – Chủ tịch Hội Tin học tỉnh Khánh Hòa,
    Ông Trần Lạc Hồng – Phó Chủ tịch – Tổng thư ký HTH TP.HCM,
    Ông Lê Bá Quang – Phó Chủ tịch HTH TP. HCM.

    – Ban Thư ký:
    Ông Huỳnh Nguyễn Anh Kiệt – Phó chủ tịch – TTK HTH tỉnh Khánh Hòa,
    Ông Ngô Duy Khánh – Phó chủ tịch HTH tỉnh Khánh Hòa.

     Các phát biểu:

    – Ông Trần Minh Duân – Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa phát biểu khai mạc Hội thảo.
    – Ông Lê Trường Tùng – Chủ tịch HTH TP. Hồ Chí Minh trình bày tổng quan diễn biến các kỳ tổ chức Hội thảo khu vực về hợp tác phát triển CNTT từ lần I đến V và đề xuất công tác tổ chức Hội thảo trong các lần tiếp theo, trong đó đề nghị sự chủ động, giữ vai trò chính của Đơn vị đăng cai trong công tác tổ chức; giới thiệu tổng quan tình hình phát triển CNTT của Việt Nam.
    – Ông Nguyễn Văn Hượt – Giám đốc Sở KHCN&MT tỉnh Khánh Hòa phát biểu chào mừng Hội thảo.
    – Ông Trần Lạc Hồng – Phó chủ tịch – Tổng thư ký HTH TP. HCM giới thiệu toàn bộ các hoạt động của hội thảo trong hai ngày 13 và 14/9/2002.

    Các báo cáo tham luận:
    1. Ông Nguyễn Thúc Hưng báo cáo về dự án 112 tại Khánh Hòa.
    2. Ông Nguyễn Trọng báo cáo về Ứng dụng CNTT trong hoạt động hành chính tại một số thành phố ở Châu Á và suy nghĩ của chúng ta.
    3. Ông Thân Trọng Phúc báo cáo về Hỗ trợ xây dựng nền tảng CNTT tại Việt Nam.
    4. Ông Lê Viết Dũng báo cáo về Mô hình CNTT của một địa phương.
    5. Ông Nguyễn Thạch báo cáo về Đŕo tạo CNTT phục vụ phát triển thủy hải sản.
    6. GS. Nguyễn Đình Ngọc báo cáo về Vấn đề Gen đồ học (Genomics) và thủy hải sản.

    Chiều ngày 13/9/2002 (Bắt đầu lúc 14h00 và kết thúc lúc 17h30)
    Tọa đàm trao đổi về các vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính Nhà nước.
    Chủ trì:
    1. GS.TS. Nguyễn Đình Ngọc
    2. TS. Nguyễn Trọng
    3. TS. Lê Trường Tùng
    4. TS. Nguyễn Kim Hòa
    5. Th.S. Lê Bá Quang

    Báo cáo dẫn đề: Ông Lê Bá Quang.
    Các yêu cầu của đề án 112:
    1. CSDL dùng chung,
    2. Hạ tầng kỹ thuật,
    3. Cải cách hŕnh chính,
    4. An toàn hệ thống,
    5. Đào tạo nhân lực,
    6. Thời gian (2000-2005),
    7. Ngân sách,
    8. Năng lực tổ chức thực hiện và các dự án thành phần. 
    Các vấn đề của đề án 112:
    1. Phạm vi đề án 112 và quan hệ với chương trình 58 ?
    2. Trách nhiệm cụ thể giữa Ban 112 TW đối với tỉnh ? Nếu chưa quy định rõ thì các tỉnh nên làm gì ?
    3. Phần mềm và CSDL: TW cung cấp cái gì, cái gì tỉnh phải tự lo? Tỉnh có được tham gia ý kiến về những phần TW cấp không?
    4. Nhà cung cấp giải pháp cho tỉnh: Ai? năng lực? kinh nghiệm? rủi ro?
    5. Ngân sách đề án 112: Sử dụng lŕm sao cho hiệu quả cao?
    6. Nhân sự của Ban 112 ?
    7. Tổ chức chương trình đào tạo nhân sự?
    8. Xây dựng lực lượng CNTT tại địa phương?
    9. Tổ chức triển khai đề án 112: Đấu thầu? Tư vấn? Thiết kế? …

    Nội dung thảo luận:
    1. Ông Nguyễn Đình Ngọc – HTH Việt Nam: 58 không phải là một chương trình mà là một chỉ thị của Đảng. Cần tham khảo thêm nghị quyết 42. 112 là xuất phát từ chỉ thị 58. Do đó, làm 112 cần phải chú ý đến các nền tảng pháp lý về thực tế đã triển khai khác trước đây đã làm. Không nên quên thử thách E-AFTA, E-ASEAN.

    2. Ông Võ Ngọc Anh – Đại biểu Bình Định: Các tỉnh đều thành lập một trung tâm tích hợp. VP UBND tỉnh cần phải nhất thiết thành lập một trung tâm tích hợp không? Cách thức như thế nào: Nhân sự ra sao? Hệ thống truyền dẫn thế nào là hợp lý? Sự hợp tác với hệ thống viễn thông? Các phần mềm dùng chung được hiểu như thế nào là đúng?

    3. Ông Nguyễn Trọng – HTH TP.HCM: CityWEB là một dạng của Trung tâm thông tin tích hợp, bao gồm thông tin tích hợp phục vụ cho chính quyền và cho nhân dân. City WEB tổ chức phục vụ cho nhân dân trước, là một cổng hành chính phục vụ dịch vụ hành chính công. Hiện nay CityWEB còn thiếu về hậu phương thông tin phục vụ cho chính quyền và dịch vụ hành chính công.
    Biên chế cho CityWEB HCM hiện nay chưa được giao cụ thể cho một tổ chức nŕo cả. Trung tâm thông tin hiện nay đang tạm quản lý CityWEB: Biên tập thông tin (3 người). Trung tâm tích hợp được thành lập khi có nhu cầu rất nhiều về nguồn thông tin. Việc thành lập một đường truyền riêng cho mạng 112 cần phải được xem xét một cách nghiêm túc vì thật sự không cần thiết. Có thể sử dụng chung với mạng viễn thông hiện nay.

    4. Ông Cao Đăng Tân – Đại học KHTN: Có thể thành lập trung tâm tích hợp bằng cách đi từ trên xuống dựa trên cơ sở nhu cầu thông tin của cấp dưới. Nhân sự cho hệ thống tích hợp là phải tính đến cho cả mạng lưới cung cấp thông tin. Mạng viễn thông hiện còn nhiều hạn chế nên nếu hệ thống có nhu cầu thông tin lớn thì cần phải xem xét việc thành lập mạng riêng. Việc tách rời mạng chính phủ với Internet là chưa hợp lý mà cần phải xem xét việc xây dựng chế độ bảo vệ cho mạng chính phủ.
    Trong trương trình 112 đã có đề cập đến an toàn dữ liệu, an ninh dữ liệu chưa?

    5. Ông Nguyễn Trọng: Đề cập lại mối quan hệ giữa 112 và Chương trình chung về phát triển CNTT.

    6. Ông Nguyễn Đình Ngọc: Từ khi Nghị quyết 49 ra đời, vấn đề bảo mật đã được đặt ra. Lực lượng cơ yếu của chúng ta đã rất thành công trong chiến tranh nhưng còn hạn chế trong công tác bảo vệ an ninh kinh tế hiện nay.

    7. Ông Nguyễn Trọng: Quan điểm của HCMC là không tách rời mạng viễn thông và mạng hành chính rięng. Có một backbone chung cho toàn thŕnh phố. Trung tâm tích hợp đuợc kết nối với backbone bằng đường cao tốc. Các điểm cung cấp thông tin khác nếu có khối lượng thông tin lớn và thuận tiện thì được nối vào backbone còn các điểm khác có thông tin khối lượng lớn mà không thuận tiện thì kết nối bằng leaseline. Đại đa số được kết nối với Trung tâm tích hợp bằng đường dial-up.

    8. Ông Nguyễn Văn Hượt: Đối với Khánh Hòa hiện nay, 112 giao cho VPUBND tỉnh, 58 thì giao cho Sở KHCNMT. Đề án 112 đã được phê duyệt, trong khi đó 58 thì đang còn xem xét. Việc quan tâm về kinh phí hiện nay cũng đang chỉ tập trung cho 112 do có liên quan trực tiếp đến hoạt động QLHCNN. Việc thực hiện 58 hiện nay rất khó. Tuy nhiên phải cần triển khai thực hiện để đảm bảo việc phát triển CNTT một cách đầy đủ.

    9. Ông Nguyễn Trọng: HCMC quan niệm 112 là một đề án trong kế hoạch phát triển CNTT chung của thành phố. Tuy nhiên việc 112 được triển khai trước cũng hợp lý, và khi đã có một kế hoạch tổng thể thì các chương trình con cần phải tuân thủ theo đúng với vị trí của nó trong kế hoạch tổng thể.

    10. Ông Ngô Duy Khánh – HTH Khánh Hòa: Trung tâm tích hợp được hiểu như thế nào? Vì hiện nay mạng của chính phủ đang được tách rời khỏi Internet. Chúng ta đang bàn đến Chính phủ điện tử, còn Công dân điện tử thì như thế nào? Chúng ta có quan tâm đến chương trình nâng cao nhận thức CNTT cho cộng đồng không?

    11. Ông Nguyễn Trọng: 112 đã thừa hưởng những gì từ 49/CP?

    12. Ông Nguyễn Đình Ngọc: 49/CP mặc dù chưa được đầy đủ nhưng đã đạt được bài toán về nguồn nhân lực CNTT. Ở 112, bài toán nhân lực đã được xem xét một cách đầy đủ hơn. Cần nghiên cứu thêm chỉ thị 42 và 58.

    13. Ông Lâm Tùng Giang – VP UBND TP Đà Nẵng: 112 tạo ra một môi trường điện tử trong công tác quản lý HCNN và giúp cho công chức làm quen với môi trường này. Hiện nay các địa phương đang có tình trạng cát cứ thông tin và VP UBND cần thiết phải tập hợp các thông tin này để phục vụ công tác quản lý. Từ đó xuất phát Trung tâm thông tin tích hợp. Việc thành lập một mạng riêng (tách rời mạng viễn thông) là cần thiết.

    14. Ông Võ Ngọc Anh – Đại biểu Bình Định: Các dự án CNTT đã được duyệt. Tháng 9/2001, Bình Định đã có chương trình phát triển CNTT đến 2010. Phạm vi của 112 là rất rõ. Tính khả thi của 112 còn không được cao lắm do khả năng ứng dụng của các Sở ban ngành. Mảng doanh nghiệp còn quá xa cách với 112 ngoài việc đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

    15. Ông Nguyễn Hữu Anh – VP UBND Bình Thuận: 112 riêng của VPUBND tỉnh hay của các Sở ngành? 112 là đề án tin học hóa QLHCNN nên nó có phạm vi bao gồm toàn bộ hệ thống QLHCNN từ TW đến địa phương và cơ sở. Danh mục phần mềm dùng chung do Chính phủ thông báo là quá nhiều, trong khi thời gian đã còn rất ngắn và chưa có thông tin gì về việc hoàn tất các phần mềm dùng chung này. Các phần mềm dùng chung trước đây chưa hoạt động hiệu quả. Do đó cần xem xét việc xây dựng phần mềm dùng chung như thế nào? Địa phương không chủ động được trong kế hoạch phát triển phần mềm. 112 không tách rời với 58 mà là một bộ phận quan trọng của 58. Mối quan hệ giữa Trung tâm tích hợp dữ liệu của VP UBND tỉnh và các Trung tâm CNTT của Sở KHCNMT?

    16. Ông Lê Viết Dũng – TT Công nghệ Phần mềm Thừa Thiên – Huế: Theo tôi hiểu thì Trung tâm Tích hợp Dữ liệu là một bộ phận mang tính chất tác nghiệp kỹ thuật chứ không phải là phát triển các ứng dụng. Về mặt cơ sở vật chất đây là một phòng có chứa các thiết bị công nghệ thông tin mạnh dùng để lưu trữ các hệ cơ sở dữ liệu tập trung của tỉnh và bảo đảm các phần mềm ứng dụng kết nối với các cơ sở dữ liệu này chạy thông suốt trên các thiết bị đó. Về mặt nhân sự, các chuyên viên của Trung tâm có khoảng 3 đến 5 người chỉ làm nhiệm vụ duy trì sự hoạt động thông suốt của các thiết bị đặt tại Trung tâm, bảo trì các thiết bị đó, tiếp nhận các phần mềm dùng chung để cài đặt tại Trung tâm và duy trì sự hoạt động lâu dài của các phần mềm đó. Với nhân lực như vậy Trung tâm sẽ khó có khả năng xây dựng các ứng dụng công nghệ thông tin riêng để xử lý các hệ cơ sở dữ liệu đặt tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu. Công việc này phải do lực lượng mạnh của các Trung tâm CNTT của các Sở KHCNMT hoặc của tỉnh.

    17. Ông Lê Trường Tùng: Thông báo nội dung danh mục các phần mềm dùng chung do Ban 112 TW công bố. Đặt vấn đề về tính khả thi của các chương trình dùng chung? Các chương trình dùng chung trước đây đều không thành công. Dùng chung lŕ có một nhân chung, sau đó phát triển theo cụ thể ứng dụng chứ không phải là sử dụng y nguyên một phần mềm nào đó cho tất cả các đơn vị sử dụng.

    18. Ông Lê Bá Quang – HTH TP.HCM: Đề nghị tập hợp những vấn đề vướng mắc trong hội thảo để kiến ghị trung ương.

    19. Ông Lê Trường Tùng: Làm thế nào để xây dựng một hệ thống CNTT có thể sử dụng được trong thời gian 5 đến 7 năm? Đối với doanh nghiệp, quy định khấu khao thiết bị CNTT là 3 năm. Do đó, quan điểm đầu tư là phải sử dụng hiệu quả ngay hơn là đặt mục tięu phải sử dụng lâu dài.

    20. Ông Nguyễn Thụy Khánh Quang – Trung tâm Cosis: Ban soạn thảo 112 có quan tâm đến vấn đề tiến độ cấp kinh phí, khả năng đáp ứng kinh phí so với dự toán hay không? Hầu hết đều cho rằng hiện nay chúng ta dùng thiết bị CNTT còn phung phí nhưng nguyên nhân vì sao thì không có thông tin. Vấn đề thông tin cần phải được quan tâm và đề ra để giải quyết. Tin học hóa cần chú ý đến những khâu có vấn đề bức xúc nhất về thông tin.

    21. Ông Cao Đăng Tân – Đại học KHTN: Phần mềm dùng chung do TW xây dựng phải là một chương trình mở và có thể phát triển được theo nhu cầu ứng dụng cụ thể. Vấn đề đào tạo nhân lực CNTT cần phải được chú ý ngay từ bây giờ. Trung tâm tích hợp ngoài chức năng tích hợp cần phải có thêm chức năng phân tích dữ liệu.

    22. Ông Nguyễn Tư Nguyên – Linet Nha Trang: Việc xây dựng một chương trình dùng chung cho tất cả các địa phương là không có tính khả thi. Nân xây dựng một chương trình có nhân chung và có khả năng phát triển theo nhu cầu ứng dụng. Việc xây dựng một hệ thống tích hợp thực sự rất khó. Vấn đề đặt ra lŕ cần phải có một cái được coi là “chuẩn” để thiết kế các phần mềm ứng dụng.

    23. Ông Nguyễn Đình Ngọc: Chính phủ cũng đã xây dựng hệ thống tích hợp một số CSDL như: đất đai, dân cư, tài nguyên, môi trường, tổ chức cán bộ, kế hoạch ngân sách, kho bạc, … Tuy nhiên vấn đề là chưa xác định được quy chế tích hợp chứ không phải là công nghệ tích hợp. Ngoŕi ra, chúng ta còn gặp khó khăn trong những lĩnh vực phi tin học (chữ ký điện tử là một ví dụ). Cần nhất thiết quan tâm đến vấn đề pháp lý hóa các quy chế tích hợp. Vấn đề phần mềm dùng chung là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự chỉ huy thống nhất và phù hợp xu thế hợp tác (trong nước và quốc tế) trên mọi lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội.

    24. Ông Lê Bá Quang: Các địa phương cần chuẩn bị các nhu cầu về hệ thống quản lý trước khi bắt tay vào việc xây dựng hệ thống.

    25. Ông Phí Anh Tuấn – Công ty AZ: Thông tin được lấy ra từ hoạt động tác nghiệp hàng ngày của các cơ quan. Kinh nghiệm là Người đứng đầu cơ quan quan tâm đến thông tin hệ thống thì khả năng thành công của dự án tin học hóa là rất cao. Trong hoạt động QLHCNN có sự quan hệ giữa nhiều cơ quan Nhà nước với nhau nên hệ thống cũng cần phải chú ý đến vấn đề này để đảm bảo hệ thống hoạt động hiệu quả.

    26. Trung tâm y tế Ninh Hòa: Mục tiêu cuối cùng của hành chính Nhà nước là quản lý và ra quyết định. Hiệu quả của các phần mềm dùng chung hiện nay thực tế là không cao, nhất là khả năng đáp ứng thông tin của các cấp cơ sở.

    Ông Lê Trường Tùng – Đúc kết nội dung buổi thảo luận:
    Buổi tọa đàm đã phản ánh mối quan tâm sâu sắc đến các vấn đề về nội dung, các điều kiện, thời gian và phương thức triển khai đề án 112 của Chính Phủ với Chương trình phát triển CNTT theo Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị (Chương trình 58); tầm quan trọng của việc tổ chức xây dựng Cơ sở dữ liệu (CSDL) trong đề án 112; cơ cấu tổ chức bộ máy triển khai đề án 112; việc thành lập các trung tâm tích hợp CSDL; việc triển khai áp dụng các phần mềm dùng chung. Hội thảo sẽ đúc kết những ý kiến và đề xuất để trình Trung ương về nội dung thảo luận này.

    Ông Nguyễn Văn Hượt – Đúc kết nội dung Hội thảo Nha Trang 2002:
    Hội thảo có 388 đại biểu tham dự. Tại hội thảo có 6 báo cáo tham luận chính về các vấn đề: đào tạo nguồn nhân lực CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, tổ chức quản lý CNTT, ứng dụng CNTT trong quản lý hŕnh chính Nhà nước và thực trạng triển khai đề án 112. Tại buổi tọa đàm, hầu hết các địa phương đều rất quan tâm và có những bức xúc trong việc triển khai đề án 112. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa TW và địa phương, các địa phương với nhau và với các đơn vị hoạt động CNTT để đảm bảo triển khai tốt và hiệu quả đề án 112.

    Ông Lê Viết Dũng – Đại diện Thừa Thiên Huế báo cáo kế hoạch tổ chức Hội thảo hợp tác phát triển CNTT lần VII.

    Ông Nguyễn Văn Hượt – Giám đốc Sở KHCNMT tỉnh Khánh Hòa, đại diện của Đơn vị đăng cai Hội thảo hợp tác phát triển CNTT lần VI trao cờ cho Ông Dương Thế Hùng – Phó Chánh VP UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, đại diện của Đơn vị đăng cai Hội thảo hợp tác phát triển CNTT lần VII (năm 2003).
    Đăng cai Hội thảo hợp tác phát triển CNTT lần VIII (năm 2004): Tỉnh Kiên Giang.

    Sáng ngày 14/9/2002 (Bắt đầu lúc 08h00 và kết thúc lúc 11h00)
    Số lượng đại biểu: 150 người.
    Báo cáo giới thiệu sản phẩm và giải pháp của các doanh nghiệp
    1. Đại học dân lập kỹ thuật: Thực trạng về giảng dạy và triển khai ứng dụng CNTT trong trường Đại học dân lập kỹ thuật.
    2. Đại học khoa học tự nhiên: Mô hình chứng thực dùng PKI (Public key Infrastructure) trong chính phủ điện tử.
    3. Công ty T&H: Giải pháp về trang WEB hŕnh chính tỉnh.
    4. Công ty Mekông Xanh: Giải pháp kỹ thuật cho dự án 112/ Máy chủ và các thiết bị đi kèm.
    5. Công ty CMS: Máy tính Việt nam với chương trình tin học hóa của Chính phủ.
    6. Công ty Linet Nha Trang: Ứng dụng mô hình vạn năng J2EE trong thiết kế một phięn chợ ảo.
    7. Trung tâm Khả Thi: Giải pháp quản lý liên khách sạn cho Công ty du lịch.
    8. Công ty AZ: Xây dựng hệ thống thông tin tác nghiệp tại Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Khánh Hòa.

    Chiều ngày 14/9/2002 (Bắt đầu lúc 14h15 và kết thúc lúc 16h30)
    Số lượng đại biểu: 100 người.
    Báo cáo giới thiệu sản phẩm và giải pháp của các doanh nghiệp
    9. Công ty A.T Soft: Ứng dụng CNTT trong quản lý nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy hải sản.
    10. Công ty Khai Trí: Vali nghe nhìn – Thiết bị đồng bộ phục vụ giáo dục/Lớp học điện tử (E-Classroom).
    11. Công ty Hài Hòa: Chương trěnh quản lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và nhà ở.
    12. Công ty VN ST Soft: Giải pháp di động hỗ trợ doanh nghiệp.
    13. Công ty Hài Hòa: Chương trình quản lý công văn/Chương trình hỗ trợ cấp giấy phép xây dựng.
    14. Công ty P.A Việt nam: Điều khiển máy tính từ xa bằng Remote.
    15. Nhóm phát triển phần mềm sinh viên: Cẩm nang sinh viên/Cẩm nang Đoàn Đội.

    Đêm 14/9/2002 (Bắt đầu lúc 18h15 và kết thúc lúc 21h30)
    Chương trình ca nhạc chào mừng
     Hội thảo khu vực về hợp tác phát triển CNTT lần VI – Hội thảo Nha Trang năm 2002 do Đoŕn Ca múa nhạc Hải Đăng thực hiện: 60 phút.
    Phần Giao lưu Tuổi trẻ Khánh Hòa với CNTT: 120 phút.
    Chủ trì:
    1. Ông Nguyễn Văn Hượt – GĐ Sở KHCNMT Khánh Hòa,
    2. Th.S. Ngô Duy Khánh – Phó chủ tịch HTH tỉnh Khánh Hòa,
    3. Ông Phạm Văn Bảy – Nguyên Chủ tịch HTH TP. HCM,
    4. GS. Nguyễn Lãm – Trường Đại học dân lập Văn Lang,
    5. Ông Trần Lạc Hồng – Phó Chủ tịch – Tổng thư ký HTH TP. HCM,
    6. Th.S. Lê Bá Quang – Phó Chủ tịch HTH. TP. HCM,
    7. TS. Nguyễn Kim Hòa – Chủ tịch HTH tỉnh Khánh Hňa,
    8. TS. Phan Viết Hoàng – Công ty VNST Soft Nha Trang.
    Số lượng học sinh, sinh viên tham dự: 290 người.
    Số câu hỏi tại đêm giao lưu: 40 câu hỏi.
    Số câu hỏi được trả lời: 19 câu hỏi.
    Chương trình giao lưu với nhóm phát triển phần mềm sinh viên: 15 phút.

    ——————————————————————————-

    Đính kèm:

    Thông báo số 2

    Thông báo số 1